Bảo vệ môi trường nước

b. Các chỉ tiêu hóa học

Độ PH

Độ pH là chỉ số đặc trưng cho nồng độ ion H color:black”>+ có trong dung dịch, thường được dùng để biểu thị tính axit và tính kiềm của nước.

– Khi pH = 7 nước có tính trung bình

– pH < 7 nước có tính axit

                      – pH > 7 nước có tính kiềm

13.0pt;color:black”>Độ pH của nước có liên quan đến sự hiện diện của một số kim loại và khí hoà tan trong nước. Ở độ pH < 5, tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất, trong một số nguồn nước có thể chứa sắt, mangan, nhôm ở dạng hoà tan và một số loại khí như CO2, H color:black”>2S tồn tại ở dạng tự do trong nước. Độ pH được ứng dụng để khử các hợp chất sunfua và cacbonat có trong nước bằng biện pháp làm thoáng. Ngoài ra khi tăng pH và có thêm tác nhân oxy hoá, các kim loại hoà tan trong nước chuyển thành dạng kết tủa và dễ dàng tách ra khỏi nước bằng biện pháp lắng lọc. Độ kiềmĐộ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng của các ion hydrocacbonat (HCO3- color:black”>), cacbonat (CO32-), hyđroxyl(OH- color:black”>).

13.0pt;color:black”>Ở nhiệt độ nhất định, độ kiềm phụ thuộc vào độ pH và hàm lượng khí

13.0pt;color:black”>CO2 tự do có trong nước.

13.0pt;color:black”>Độ kiềm là một chỉ tiêu quan trọng trong công nghệ xử lý nước. Để xác

13.0pt;color:black”>định độ kiềm thường dùng phương pháp chuẩn độ mẫu nước thử bằng axit

13.0pt;color:black”>clohydric.

Ø Độ cứng

13.0pt;color:black”>Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion canxi và magiê có trong nước. Trong kỹ thuật xử lý nước sử dụng ba loại khái niệm độ cứng: color:black”>Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm lượng các ion canxi và magiê có trong nước.Độ cứng tạm thời biểu thị tổng hàm lượng các ion Ca color:black”>2+, Mg2+ color:black”> trong các muối cacbonat và hydrrocacbonat có trong nước. color:black”>Độ cứng vĩnh cửu biểu thị tổng hàm lượng các ion Ca2+ color:black”>, Mg2+ trong các 13.0pt;color:black”>muối axit mạnh của canxi và mangan

13.0pt;color:black”>Dùng cho nước có độ cứng cao trong sinh hoạt sẽ gây lãng phí xà phòng do canxi và magiê phản ứng với các axit béo tạo thành các hợp chất khó tan.Trong sản xuất, nước cứng có thể tạo lớp cáu cặn trong các lò hơi hoặc gây kết tủa ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.Tùy theo giá trị độ cứng, nước được phân loại thành:

– Độ cứng < 50 mg CaCO3 color:black”>/l : nước mềm

– Độ cứng 50 – 150 mg CaCO3 color:black”>/l : nước trung bình.

– Độ cứng 150-300 mg CaCO3 color:black”>/l : nước cứng.

– Độ cứng >300 mg CaCO3 color:black”>/l : nước rất cứng.

Ø Độ oxy hóa

Độ oxy hoá là một đại lượng để đánh giá sơ bộ mức độ nhiễm bẩn của

13.0pt;color:black”>nguồn nước. Đó là lượng oxy cần có để oxy hoá hết các hợp chất hữu cơ trong

13.0pt;color:black”>nước. Chất oxy hóa thường dùng để xác định chỉ tiêu này là pemanganat kali

13.0pt;color:black”>(KMnO4).

13.0pt;color:black”>Trong thực tế, nguồn nước có độ oxy hoá lớn hơn 10 mgO2 color:black”>/ đã có thể bị nhiễm bẩn. Độ oxy hoá trong nước mặt, đặc biệt nước có màu có thể cao hơn nước ngầm.



Ø Các hợp chất sắt

13.0pt;color:black”>Trong nước thiên nhiên, chủ yếu là nước ngầm, có thể chứa sắt dưới dạng sắt (II) hòa của tan của các muối bicacbonat, sunfat, clorua, đôi khi dưới dạng keo của axit humic hoặc keo silic. Khi tiếp xúc với oxy hoặc các chất oxy color:black”>hóa, sắt (II) bị oxy hóa thành sắt (III) và kết tủa bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ. Nước ngầm thường có hàm lượng sắt cao với hàm lượng đến 40mg/l hoặc color:black”>cao hơn. Với hàm lượng sắt cao hơn 0.5mg/l, nước có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hỏng sản phẩm của các ngành dệt, giấy, phim ảnh, color:black”>đồ hộp. Các cặn sắt kết tủa có thể làm tắc hoặc giảm khả năng vận chuyển của các ống dẫn nước.

Ø Các hợp chất magan

13.0pt;color:black”>Cũng như sắt, mangan thường có trong nước ngầm dưới dạng ion Mn2+, color:black”>nhưng với hàm lượng tương đối thấp, ít khi vượt quá 5 mg/l. Tuy nhiên, với hàm lượng mangan trong nước lớn hơn 0.1mg/l sẽ gây nguy hại trong việc sử dụng, giống như trường hợp nước chứa sắt với hàm lượng cao.

Ø Khí hòa tan

13.0pt;color:black”>Các loại khí hoà tan thường thấy trong nước thiên nhiên là khí cacbonic (CO2 color:black”>), khí Oxy (O2) và sunfua hydro (H2 color:black”>S). Trong nước ngầm hàm lượng oxy hòa tan rất thấp hoặc không có, do các phản ứng oxy hóa khử xảy ra trong lòng đất đã tiêu hao hết oxy.

Add a Comment