Xử lý nước thải sinh hoạt

Công ty môi trường Ngọc Lân cung cấp các dịch vụ môi trường: xử lý nước thải, khí thải, cung cấp hóa chất, đề án bảo vệ môi trường, ĐTM, báo cáo giám sát, tư vấn thủ tục bảo vệ môi trường, xử lý sạch… Dưới đây là một số thông tin về chất thải sinh hoạt và công nghệ xử lý.

Xử lý nước thải sinh hoạt là xử lý lượng nước thải do con người thải ra. Loại nước thải này phát sinh từ nhà vệ sinh, nước tắm giặt, lau chùi nhà cửa, từ bếp ăn…Nước thải từ các cộng đồng dân cư như cao ốc, chung cư, khách sạn, hay các hộ dân cư chảy ra cống chung và được thu gom về trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung để xử lý.

Công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt do chúng tôi thực hiện có những tên gọi như sau: công nghệ Mương Ôxi Hóa, công nghệ MBR, MBBR, SBR, Aerotank, Unitank,…

Mỗi công nghệ đều có ưu, khuyết điểm riêng nên tùy theo hoàn cảnh, nhu cầu mà thiết kế cho phù hợp.

Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt rất phổ biến do tính chất đơn giản, dễ sử dụng, giá thành hợp lý:

Xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ Aerotank & Anoxic

1. SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT       

 mohinhxulynuocthaisinhhoat

2. THUYẾT MINH CÔNG NGHỆ

Nước thải từ các nguồn phát sinh theo mạng lưới thu gom nước thải chảy vào hố thu của trạm xử lý. Tại đây, để bảo vệ thiết bị, hệ thống đường ống công nghệ, …, song chắn rác thô được lắp đặt để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn ra khỏi nước thải. Sau đó nước thải sẽ được bơm lên bể điều hòa

Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu. Bể điều hòa có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào trạm xử lý. Điều hòa lưu lượng là phương pháp được áp dụng để khắc phục các vấn đề sinh ra do sự dao dộng của lưu lượng, cải thiện hiệu quả hoạt động của các quá trình tiếp theo, giảm kích thước và vốn đầu tư xây dựng các công trình tiếp theo. Các lợi ích của việc điều hòa lưu lượng là: (1) quá trình xử lý sinh học được nâng cao do không bị hoặc giảm đến mức thấp nhất “shock” tải trọng, các chất ảnh hưởng đến quá trình xử lý có thể được pha loãng, pH có thể được trung hòa và ổn định; (2) chất lượng nước thải sau xử lý được cải thiện do tải trọng chất thải lên các công trình ổn định. Bơm được lắp đặt trong bể điều hòa để đưa nước lên các công trình tiếp theo.

Nước thải sau khi qua bể điều hòa sẽ tự chảy vào cụm bể anoxic và bể aerotank. Bể anoxic kết hợp aerotank được lựa chọn để xử lý tổng hợp: khử BOD, nitrat hóa, khử NH4+ và khử NO3- thành N2, khử Phospho. Với việc lựa chọn bể bùn hoạt tính xử lý kết hợp đan xen giữa quá trình xử lý thiếu khí, hiếu khí sẽ tận dụng được lượng cacbon khi khử BOD, do đó không phải cấp thêm lượng cacbon từ ngoài vào khi cần khử NO3-, tiết kiệm được 50% lượng oxy khi nitrat hóa khử NH4+ do tận dụng được lượng oxy từ quá trình khử NO3-.

Nồng độ bùn hoạt tính trong bể dao động từ 1.000-3.000 mg MLSS/L. Nồng độ bùn hoạt tính càng cao, tải trọng hữu cơ áp dụng của bể càng lớn. Oxy (không khí) được cấp vào bể aerotank bằng các máy thổi khí (airblower) và hệ thống phân phối khí có hiệu quả cao với kích thước bọt khí nhỏ hơn 10 µm. Lượng khí cung cấp vào bể với mục đích: (1) cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí chuyển hóa chất hữu cơ hòa tan thành nước và carbonic, nitơ hữu cơ và ammonia thành nitrat NO3-, (2) xáo trộn đều nước thải và bùn hoạt tính tạo điều kiện để vi sinh vật tiếp xúc tốt với các cơ chất cần xử lý, (3) giải phóng các khí ức chế quá trình sống của vi sinh vật, Các khí này sinh ra trong quá trình vi sinh vật phân giải các chất ô nhiễm, (4) tác động tích cực đến quá trình sinh sản của vi sinh vật. Tải trọng chất hữu cơ của bể trong giai đoạn xử lý aerotank dao động từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm. Các quá trình sinh hóa trong bể hiếu khí được thể hiện trong các phương trình sau:

Oxy hóa và tổng hợp

COHNS (chất hữu cơ) + O2 + Chất dinh dưỡng + vi khuẩn hiếu khí  —>  CO2 + H2O + NH3 + C5H7O2N (tế bào vi khuẩn mới) + sản phẩm khác

Hô hấp nội bào

C5H7O2N (tế bào) + 5O2 + vi khuẩn  —>  5CO2 + 2H2O + NH3 + E

113 160

1 1,42

Bên cạnh quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ thành carbonic CO2 và nước H2O, vi khuẩn hiếu khí Nitrisomonas và Nitrobacter còn oxy hóa ammonia NH3 thành nitrite NO2- và cuối cùng là nitrate NO3-.

Vi khuẩn Nitrisomonas:

2NH4+ + 3O2 —> 2NO2- + 4H+ + 2H2O

Vi khuẩn Nitrobacter:

2NO2- + O2 —> 2 NO3-

Tổng hợp 2 phương trình trên:

NH4+ + 2O2 —> NO3- + 2H+ + H2O

Lượng oxy O2 cần thiết để oxy hóa hoàn toàn ammonia NH4+ là 4,57g O2/g N với 3,43g O2/g được dùng cho quá trình nitrite và 1,14g O2/g NO2 bị oxy hóa.

Trên cơ sở đó, ta có phương trình tổng hợp sau:

NH4+ + 1,731O2 + 1,962HCO3-   —>  0,038C5H7O2N + 0,962NO3- + 1,077H2O + 1,769H+

Phương trình trên cho thấy rằng mỗi một (01)g nitơ ammonia (N-NH3) được chuyển hóa sẽ sử dụng 3,96g oxy O2, và có 0,31g tế bào mới (C5H7O2N) được hình thành, 7,01g kiềm CaCO3 được tách ra và 0,16g carbon vô cơ được sử dụng để tạo thành tế bào mới.

Quá trình khử nitơ (denitrification) từ nitrate NO3- thành nitơ dạng khí N2 đảm bảo nồng độ nitơ trong nước đầu ra đạt tiêu chuẩn môi trường. Quá trình sinh học khử Nitơ liên quan đến quá trình oxy hóa sinh học của nhiều cơ chất hữu cơ trong nước thải sử dụng Nitrate hoặc nitrite như chất nhận điện tử thay vì dùng oxy. Trong điều kiện không có DO hoặc dưới nồng độ DO giới hạn ≤ 2 mg O2/L (điều kiện thiếu khí)

C10H19O3N + 10NO3-   —>   5N2 + 10CO2 + 3H2O + NH3 + 100H+

Quá trình chuyển hóa này được thực hiện bởi vi khuẩn khử nitrate chiếm khoảng 10-80% khối lượng vi khuẩn (bùn). Tốc độ khử nitơ đặc biệt dao động 0,04 đến 0,42 g N-NO3-/g MLVSS.ngày, tỉ lệ F/M càng cao tốc độ khử tơ càng lớn.

Nước sau cụm bể anoxic – aerotank tự chảy vào bể lắng. Bùn được giữ lại ở đáy bể lắng. Một phần được tuần hoàn lại bể anoxic, một phần được đưa đến bể chứa bùn. Nước trong được bơm qua cột khử trùng để loại bỏ vi khuẩn, các cặn lơ lửng còn sót lại trong nước trước khi nước được xả vào nguồn tiếp nhận.Bùn ở bể chứa bùn được lưu trữ trong khoảng thời gian nhất định, sau đó được các cơ quan chức năng thu gom và xử lý theo quy định. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi sinh ra do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.

Hãy gọi Công ty môi trường Ngọc Lân để biết thêm về Xử lý nước thải sinh hoạt.

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và hiệu quả !

Xử lý nước thải thủy sản bằng công nghệ mới AAO và MBBR

Công ty môi trường Ngọc Lân cung cấp dịch vụ môi trường như: xử lý nước thải, xử lý khí thải, xử lý chất thải, bán hóa chất, đề án bảo vệ môi trường, DTM, tư vấn thủ tục môi trường, xử lý nước sạch …

XỬ LÝ NƯỚC THẢI THỦY SẢN BẰNG CÔNG NGHỆ MỚI AAO&MBBR: 

Xử lý nước thải thủy sản là điều bắt buộc đối với các nhà máy chế biến thủy sản. Chế biến thủy sản là khâu cuối cùng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản trước khi đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ. Những sản phẩm thủy sản chế biến không những phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu, đem về ngoại tệ cho đất nước. Những bước thăng trầm của ngành này luôn gắn liền với nhịp sống chung của nền kinh tế đất nước, nhất là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.Song song đó, các nhà máy chế biến thủy sản đã có những đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ môi trường như xây dựng hệ thống XLNT, hệ thống xử lý khí thải.

index

 

Bảng kết quả chất lượng nước thải chế biến thủy sản

1. ĐẶC TRƯNG CỦA NƯỚC THẢI NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN

                 Nước thải ngành chế biến thủy sản chứa phần lớn các chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và các chất béo. Trong nước thải chứa các chất như  cacbonhydrat, protein, chất béo… khi xả vào nguồn nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng ôxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ. Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục hoặc có màu, nó hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu…

Các chất dinh dưỡng (N,P) với nồng độ cao gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn nước, rong tảo phát triển làm suy giảm chất lượng nguồn nước. Các vi sinh vật đặc biệt vi khuẩn gây bệnh và trứng giun sán trong nguồn nước là nguồn ô nhiễm đặc biệt. Con người trực tiếp sử dụng nguồn nước nhiễm bẩn hay qua các nhân tố lây bệnh sẽ truyền dẫn các bệnh dịch cho người như bệnh lỵ, thương hàn, bại liệt, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tiêu chảy cấp tính… Nồng độ ô nhiễm của nước thải tinh thủy sản thể hiện cụ thể ở bản.

 2. THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

 Nước thải từ các phân xưởng sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng dẫn đến bể lắng cát được đặt âm sâu dưới đất, ở đây sẽ giữ lại cát và các chất rắn lơ lửng có kích thước lớn để đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình xử lý tiếp theo. Trước khi vào bể lắng cát, nước thải được dẫn qua thiết bị lọc rác thô nhằm loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn như: giấy, gỗ, nilông, lá cây … ra khỏi nước thải. Nước thải ra khỏi bể lắng cát sẽ đến hầm tiếp nhận rồi bơm qua máy sàng rác để loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn hơn 1mm. Sau đó nước tự chảy xuống bể điều hòa.

Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu, đồng thời có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Nước thải được bơm từ bể điều hòa vào bể UASB. Tại bể UASB, các vi sinh vật kỵ khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản và khí Biogas (CO2, CH4, H2S, NH3…), theo phản ứng sau :

Chất hữu cơ + Vi sinh vật kỵ khí  →  CO+ CH+ H2S + Sinh khối mới + …

Sau bể UASB nước thải được dẫn qua cụm bể anoxic và MBBR. Bể anoxic kết hợpMBBR là bước tiến lớn của kỹ thuật xử lý nước thải. Giá thể này có dạng cầu với diện tích tiếp xúc đáng nể: 350 m2– 400 m2/1 m3. Nhờ vậy sự trao đổi chất, nitrat hóa diễn ra nhanh nhờ vào mật độ vi sinh lớn tập trung trong giá thể lưu động. Vi sinh được di động khắp nơi trong bể, lúc xuống lúc lên, lúc trái lúc phải trong “ngôi nhà” giá thể lưu động. Lượng khí cấp cho quá trình xử lý hiếu khí đủ để giá thể lưu động vì giá thể nhẹ, xấp xỉ khối lượng riêng của nước. Do tế bào vi sinh đã có “nhà” để ở (bám dính) nên chúng ta không cần bể lắng sinh học mà chỉ lọc thô rồi khử trùng nước. Khi cần tăng công suất lên 10-30% chỉ cần thêm giá thể vào bể là được. Tiếp theo, nước trong chảy qua bể anoxic kết hợp MBBR được bơm lên bể lọc áp lực gồm các lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính để loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học. Nước thải sau khi qua bể lọc áp lực sẽ đi qua bể nano dạng khô để loại bỏ lượng SS còn lại, đồng thời khử trùng nước thải. Nước sau khi qua bể nano dạng khô đạt yêu cầu xả thải vào nguồn tiếp nhận theo quy định hiện hành của pháp luật. Bùn ở bể chứa bùn được được bơm qua máy ép bùn băng tải để loại bỏ nước, giảm khối tích bùn. Bùn khô được cơ quan chức năng thu gom và xử lý định kỳ. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi sinh ra do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.

3. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI THỦY SẢN CÔNG NGHỆ  AAO&MBBR

nước thải thủy sản

4. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI THỦY SẢN AAO&MBBR

        a.      Ưu điểm:

·         Công nghệ đề xuất phù hợp với đặc điểm, tính chất của nguồn nước thải;

·         Nồng độ các chất ô nhiễm sau quy trình xử lý đạt quy chuẩn hiện hành;

·         Diện tích đất sử dụng tối thiểu.

·         Công trình thiết kế dạng modul, dễ mở rộng, nâng công suất xử lý.

b.      Nhược điểm:

·         Nhân viên vận hành cần được đào tạo về chuyên môn;

·         Chất lượng nước thải sau xử lý có thể bị ảnh hưởng nếu một trong những công trình đơn vị trong trạm không được vận hành đúng các yêu cầu kỹ thuật;

·         Bùn sau quá trình xử lý cần được thu gom và xử lý định kỳ.

nuoc-thai-xu-ly-sinh-hoc

Hãy gọi công ty môi trường Ngọc Lân để biết thêm về Xử lý nước thải thủy sản bằng công nghệ mới AAO&MBBR.

Xử lý nước thải bằng công nghệ AAO

Công nghệ AAO là quá trình xử lý sinh học liên tục ứng dụng nhiều hệ vi sinh vật khác nhau. Đó là 3 quá trình: 1. Anaerobic ( quá trình kỵ khí) Vi sinh vật kỵ khí sẽ hấp thụ, phân hủy chất hữu cơ trong nước thải và các chất ô nhiễm dạng keo để chuyển chất hữu cơ sang dạng khí: CO2, H2S, CH4… Trong đó có 3 quá trình:

  • Phân hủy chất hữu cơ thành hợp chất cao phân tử
  • Tạo các axit
  • Tạo methane 

Khí Biogas được thu lại làm chất đốt. 2. Quá trình thiếu khí Anoxit Thời gian lưu là 1 tiếng đồng hồ. Trong nước thải có Nito và Photpho cần phải loại thải ra bằng quá trình Nitrat hóa và Photphorit hóa.

  • Nitrat hóa là quá trình tách Oxi lần lượt: NO3- qua NO2- qua N2O và tạo thành khí N2 bay hơi.
  • Photphorit hóa là quá trình chuyển hóa P+ thành chất ko có photpho hay photpho dễ dàng phân hủy dưới tác dụng của vi sinh vật hiếu khí.
  • Quá trình thiếu khí này có máy khuấy trộn làm giảm oxi giúp vi sinh phát triển và giá thể vi sinh giúp vi sinh bám vào và phát triển.

3. Quá trình Oxic ( hiếu khí) Bùn hoạt tính (vi sinh vật hiếu khí) hấp thụ oxi, chất hữu cơ ô nhiễm, sử dụng N, P tổng hợp tế bào mới, tào bào già tự phân hủy. Quá trình tổng hợp tế bào mới diễn ra nhanh hơn các tế bào già chết đi, dẫn đến lượng bùn dư và phải thu bùn thải định kỳ. Phản ứng xảy ra trong bể Arotank (sục khí khuấy đảo tăng cường oxi)

  • Oxi hóa và phân hủy chất hữu cơ tạo ra CO2, H2O và năng lượng
  • Tổng hợp tế bào mới tạo ra CO2, tế bào mới, H2O và năng lượng
  • Phân hủy nội sinh tạo ra CO2, NH3, H2O và năng lượng.

Công nghệ xử lý nước thải AAO sử dụng cho xử lý nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao.

Sức ảnh hưởng của nước tẩy rửa


Công ty môi trường Ngọc Lân tự hào là công ty đi đầu trong lĩnh vực môi trường từ năm 2003. Công ty chúng tôi đã xử lý thành công nhiều công trình như xử lý khí thải, xử lý chất thải, xử lý nước thải,…tại nhiều khu công nghiệp.

Nước tẩy rửa là sản phẩm cần thiết trong cuộc sống ngày nay. Nó gồm nhiều loại thường gặp như: nước rửa bát, bột giặt quần áo, nước tẩy các chất dầu mỡ trong nhà ăn, nước tẩy rửa tại các khu công nghiệp…Có nhiều loại nước tẩy làm sinh hoạt thuận lợi hơn rất nhiều, nhưng đồng thời chúng cũng gây ảnh hưởng không ít đến ô nhiễm môi trường.

Chất tẩy rửa là những hợp chất hữu cơ chứa một lượng muối của axit có gốc cacbua và muối của axit sunfuric. Vì trong quá trình tẩy rửa, chúng chỉ kéo chất bẩn ra khỏi các dụng cụ mà không tiêu trừ được các chất bẩn, cho nên sau khi tẩy rửa các chất bẩn và chất tẩy rửa sẽ xâm nhập vào nước, cuối cùng chảy ra các sông, hồ trở thành chất gây ô nhiễm.

Những chất ô nhiễm này chảy theo nước gặp các loài vi khuẩn khác nhau. Có loài vi khuẩn “háo oxy ” trong điều kiện có đủ oxy chúng sẽ “ăn ” rất nhiều chất hữu cơ trong cáu bẩn. Nhưng chất tẩy rửa không dễ bị những vi khuẩn háo oxy này phân giải, bởi vì thành phần chủ yếu của chúng là muối axit có gốc cacbua trong phân tử của chúng có cấu trúc benzen vòng , vi khuẩn rất khó ăn, do đó khi nước tẩy rửa lẫn vào nước sông, hồ sẽ được lưu lại trong một thời gian dài .

 Cá chết hàng loạt do nước thiếu oxy

Sau khi chảy theo dòng nước khoảng 200km chỉ có 30% lượng chất tẩy  bị các vi khuẩn phân giải.

Khi trong nước sông có lẫn chất tẩy rửa, trên mặt nước thường sủi bọt, đó là do muối của axit có gốc cacbua gây lên . Theo tính toán khi nồng độ muối của axit có gốc cacbua đạt đến 0.5mg/lit thì nước sẽ xuất hiện bọt, Bọt nhiều sẽ cản trở mặt nước tiếp xúc với không khí, khiến cho hoạt động tự làm sạch của nước giảm thấp. Khi thải vào nước một lượng lớn chất tẩy, chúng sẽ tiêu hao oxy hòa tan trong nước khiến cho cá vì thiếu oxy mà chết. Chất tẩy cong gây độc cho các loài thủy sản, gây cho cá biến thành dị dạng.Vì vậy cần xu ly nuoc thai để môi trường nước không bị ô nhiễm.

Ngoài ra muối của axit sufuric trong chất tẩy sau khi lẫn vào nước gây ra hiện tượng phú dưỡng.

Ngoài ô nhiễm đối với sông hồ, chất tẩy còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Nếu tiếp xúc với chất tẩy lâu dài, niêm mạc và da bị kích thích gây ra tổn thương cho các cơ quan ngoài cơ thể.

Để môi trường luôn sạch đẹp hãy liên hệ với công ty chúng tôi, chúng tôi sẽ xử lý một cách nhanh chóng, hiệu quả, với chi phí rẻ nhất.

Cong ty moi truong Ngoc Lan, Địa chỉ: 66A/3D Bình Đường 3, An Bình, Dĩ An, BD
Tầng 7, Tower Mê Linh, Số 2, Ngô Đức Kế, Quận 1, HCM Điện thoại:(08) 62821355 – (08) 38783916 – 0937.190.387
Email: congtyngoclan@yahoo.com

Ô nhiễm môi trường và đời sống con người

Nước thải là nước được thải ra sau khi sử dụng hoặc từ một quá trình nào đó do con người thải ra và không còn giá trị sử dụng lại cho quá trình đó nữa và được phân ra các loại sau :

Nước thải sinh hoạt

Nước thải công nghiệp

– Nước mưa

Trước tiên, xin đề cập đến nước thải công nghiệp, vấn đề đau đầu và gây tranh cải hiện nay.

1. Nước thải công nghiệp là gì?

Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp. Trong nước thải sản suất công nghiệp lại được chia ra làm 2 loại:

– Nước thải sản xuất bẩn, là nước thải sinh ra từ quá trình sản xuất sản phẩm, xúc rửa máy móc thiết bị, từ quá trình sinh hoạt của công nhân viên, loại nước này chưa nhiều tạp chất, chất độc hại, vi khuẩn, …

– Nước thải sản xuất không bẩn là loại nước sinh ra chủ yếu khi làm nguội thiết bị, giải nhiệt trong các trạm làm lạnh, ngưng tụ hơi nước cho nên loại nước thải này thường được quy ước là nước sạch.

Nước thải công nghiệp rất đa dạng về lượng cũng như tính chất, nó tùy thuộc vào các yếu tố như: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ, công suất hoạt động, … do tính chất đa dạng đó nên mỗi loại nước thải có một công nghệ xử lý riêng.

2. Các loại nước thải công nghiệp thường gặp.

Ngành công nghiệp với đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, đồng nghĩa với việc cũng có đa dạng các loại nước thải công nghiệp được thải ra hàng ngày. Một số loại nước thải của các ngành công nghiệp thường gặp và gây không ít đau đầu cho người dân cũng như các nhà chức trách trong việc kiểm soát nó là:

– Nước thải sản xuất Đường

– Nước thải sản xuất Giấy

Nước thải sản xuất Cao su

– Nước thải ngành Xi mạ

– Nước thải ngành Khoáng sản

– Nước thải ngành Dệt nhuộm

– Nước thải sản xuất bột ngọt

– Nước thải sản xuất Càfe

– Nước thải sản xuất Bia

Mỗi loại nước thải của mỗi ngành công nghiệp có một đặc tính riêng, tuy nhiên các thành phần chính của nước thải khiến ta phải quan tâm hơn trong việc xử lý nó bao gồm: kim loại nặng, dầu mỡ( chủ yếu trong nước thải ngành xi mạ), chất hữu cơ khó phân hủy ( có trong nước thải sản xuất dược phẩm, nông dược,dệt nhuộm …).

Các thành phần này không những khó xử lý mà còn độc hại đối với con người và môi trường sinh thái. Quy mô hoạt động sản xuất càng lớn thì lượng nước càng nhiều kéo theo lượng xả thải cũng càng nhiều. Bên cạnh đó, các thành phần khác trong nước thải công nghiệp tuy không phải là nguy hiểm nhưng nếu quá nhiều và không được xử lý đúng cách cũng là mối đe dọa lớn đối với nguồn nước và môi trường.

3. Làm gì với tình trạng ô nhiễm do các ngành công nghiệp như hiện nay?

Hiện trạng của nước thải công nghiệp hiện nay thì không cần phải đề cập nhiều nữa. Hàng ngày hàng giờ, các báo đài vẫn liên tục đưa tin về vấn đề ô nhiễm các con sông, các kênh rạch do các nhà máy, các khu công nghiệp xả thải ra, công khai cũng có, không công khai cũng có. Mức độ ô nhiễm là rõ ràng, các tác động của nó là trực tiếp và nhìn thấy được.

Vậy vấn đề ở đây là gì?

Người dân vẫn phản ảnh, các nhà chức trách vẫn tiếp nhận phản ảnh, các nhà máy, công ty vẫn chịu trách nhiệm, các xử phạt vẫn được thực hiện. Vậy tại sao tình trạng xả thải tràn lan vẫn xảy ra và cuối cùng người chịu thiệt thòi và bị ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là người dân xung quanh.

Phải chăng vấn đề ở đây là do mức độ xử phạt đối với các đối tượng gây ô nhiễm quá nhẹ so với cái giá họ phải trả cho việc xử lý nước thải, do đó chưa đủ mức độ răn đe? Hay do các lý do \\\”thầm kín\\\” nào khác? Làm kinh tế, kinh doanh thì lợi nhuận là điều tiên quyết. Nhưng với ý thức kém cỏi và vẫn vô tư xả thải như hiện nay, mặc người dân chịu ảnh hưởng nghiêm trọng thì chính sự yếu kém trong đạo đức nghề nghiệp này sớm hay muộn sẽ làm họ phải chịu hậu quả ngược lại.

Nước mặt bị ảnh hưởng trực tiếp từ những nguồn ô nhiễm này và dần dần nước ngầm cũng bị ảnh hưởng theo. Và để đối phó với tình trạng này, khi sử dụng nước, người dân đành phải dùng những biện pháp mang tính tạm thời và tự túc như mua nước bên ngoài hoặc sử dụng các thiết bị, hệ thống lọc nước. Những sai lầm mang tầm vóc vĩ mô và những biện pháp khắc phục mang tầm vóc vi mô. Bao giờ mới ngăn chặn được tình trạng xả thải không kiểm soát này để người dân được sử dụng nguồn nước sạch ngay từ nơi khởi nguồn của nó? Một câu hỏi lớn và khó trả lời!

Bảo vệ môi trường nước

b. Các chỉ tiêu hóa học

Độ PH

Độ pH là chỉ số đặc trưng cho nồng độ ion H color:black”>+ có trong dung dịch, thường được dùng để biểu thị tính axit và tính kiềm của nước.

– Khi pH = 7 nước có tính trung bình

– pH < 7 nước có tính axit

                      – pH > 7 nước có tính kiềm

13.0pt;color:black”>Độ pH của nước có liên quan đến sự hiện diện của một số kim loại và khí hoà tan trong nước. Ở độ pH < 5, tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất, trong một số nguồn nước có thể chứa sắt, mangan, nhôm ở dạng hoà tan và một số loại khí như CO2, H color:black”>2S tồn tại ở dạng tự do trong nước. Độ pH được ứng dụng để khử các hợp chất sunfua và cacbonat có trong nước bằng biện pháp làm thoáng. Ngoài ra khi tăng pH và có thêm tác nhân oxy hoá, các kim loại hoà tan trong nước chuyển thành dạng kết tủa và dễ dàng tách ra khỏi nước bằng biện pháp lắng lọc. Độ kiềmĐộ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng của các ion hydrocacbonat (HCO3- color:black”>), cacbonat (CO32-), hyđroxyl(OH- color:black”>).

13.0pt;color:black”>Ở nhiệt độ nhất định, độ kiềm phụ thuộc vào độ pH và hàm lượng khí

13.0pt;color:black”>CO2 tự do có trong nước.

13.0pt;color:black”>Độ kiềm là một chỉ tiêu quan trọng trong công nghệ xử lý nước. Để xác

13.0pt;color:black”>định độ kiềm thường dùng phương pháp chuẩn độ mẫu nước thử bằng axit

13.0pt;color:black”>clohydric.

Ø Độ cứng

13.0pt;color:black”>Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion canxi và magiê có trong nước. Trong kỹ thuật xử lý nước sử dụng ba loại khái niệm độ cứng: color:black”>Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm lượng các ion canxi và magiê có trong nước.Độ cứng tạm thời biểu thị tổng hàm lượng các ion Ca color:black”>2+, Mg2+ color:black”> trong các muối cacbonat và hydrrocacbonat có trong nước. color:black”>Độ cứng vĩnh cửu biểu thị tổng hàm lượng các ion Ca2+ color:black”>, Mg2+ trong các 13.0pt;color:black”>muối axit mạnh của canxi và mangan

13.0pt;color:black”>Dùng cho nước có độ cứng cao trong sinh hoạt sẽ gây lãng phí xà phòng do canxi và magiê phản ứng với các axit béo tạo thành các hợp chất khó tan.Trong sản xuất, nước cứng có thể tạo lớp cáu cặn trong các lò hơi hoặc gây kết tủa ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.Tùy theo giá trị độ cứng, nước được phân loại thành:

– Độ cứng < 50 mg CaCO3 color:black”>/l : nước mềm

– Độ cứng 50 – 150 mg CaCO3 color:black”>/l : nước trung bình.

– Độ cứng 150-300 mg CaCO3 color:black”>/l : nước cứng.

– Độ cứng >300 mg CaCO3 color:black”>/l : nước rất cứng.

Ø Độ oxy hóa

Độ oxy hoá là một đại lượng để đánh giá sơ bộ mức độ nhiễm bẩn của

13.0pt;color:black”>nguồn nước. Đó là lượng oxy cần có để oxy hoá hết các hợp chất hữu cơ trong

13.0pt;color:black”>nước. Chất oxy hóa thường dùng để xác định chỉ tiêu này là pemanganat kali

13.0pt;color:black”>(KMnO4).

13.0pt;color:black”>Trong thực tế, nguồn nước có độ oxy hoá lớn hơn 10 mgO2 color:black”>/ đã có thể bị nhiễm bẩn. Độ oxy hoá trong nước mặt, đặc biệt nước có màu có thể cao hơn nước ngầm.



Ø Các hợp chất sắt

13.0pt;color:black”>Trong nước thiên nhiên, chủ yếu là nước ngầm, có thể chứa sắt dưới dạng sắt (II) hòa của tan của các muối bicacbonat, sunfat, clorua, đôi khi dưới dạng keo của axit humic hoặc keo silic. Khi tiếp xúc với oxy hoặc các chất oxy color:black”>hóa, sắt (II) bị oxy hóa thành sắt (III) và kết tủa bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ. Nước ngầm thường có hàm lượng sắt cao với hàm lượng đến 40mg/l hoặc color:black”>cao hơn. Với hàm lượng sắt cao hơn 0.5mg/l, nước có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hỏng sản phẩm của các ngành dệt, giấy, phim ảnh, color:black”>đồ hộp. Các cặn sắt kết tủa có thể làm tắc hoặc giảm khả năng vận chuyển của các ống dẫn nước.

Ø Các hợp chất magan

13.0pt;color:black”>Cũng như sắt, mangan thường có trong nước ngầm dưới dạng ion Mn2+, color:black”>nhưng với hàm lượng tương đối thấp, ít khi vượt quá 5 mg/l. Tuy nhiên, với hàm lượng mangan trong nước lớn hơn 0.1mg/l sẽ gây nguy hại trong việc sử dụng, giống như trường hợp nước chứa sắt với hàm lượng cao.

Ø Khí hòa tan

13.0pt;color:black”>Các loại khí hoà tan thường thấy trong nước thiên nhiên là khí cacbonic (CO2 color:black”>), khí Oxy (O2) và sunfua hydro (H2 color:black”>S). Trong nước ngầm hàm lượng oxy hòa tan rất thấp hoặc không có, do các phản ứng oxy hóa khử xảy ra trong lòng đất đã tiêu hao hết oxy.

KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC

Đối với các nước phát triển, nguyên tắc giảm sự phát sinh chất thải và nâng cao hiệu quả thu hồi chất thải là phương pháp thích hợp và khả thi. Để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, người ta phải đưa ra nhiều giải pháp.

 

Công ty môi trường giới thiệu về phân loại bùn

phan-loai-bun

Nguyên liệu của nền công nghiệp rất đa dạng phong phú, bên cạnh đó công nghệ chế biến thành phẩm cũng khá đa dạng. Do sự phong phú về nguyên liệu cũng như sản phẩm nên tính chất và thành phần của nước thải cũng hết sức phong phú và đa dạng. Nếu nồng độ BOD, COD, chất hữu cơ trong nước quá cao vượt tiêu chuẩn sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hóa, bốc mùi hôi thối thậm chí bị phạt theo bộ luật môi trường.

Bể lọc sinh học nhỏ giọt

I. Cấu tạo

Bể lọc sinh học nhỏ giọt chia ra bể lọc vận tốc chậm, bể lọc vận tốc trung bình và nhanh, bể lọc cao tốc, bể lọc thô (xử lý nước thải sơ bộ trước giai đoạn xử lý thứ cấp), bể lọc hai pha.

Bể lọc vận tốc chậm: có hình trụ hoặc chữ nhật, nước thải được nạp theo chu kỳ, chỉ có khoảng 0,6 ¸ 1,2 m nguyên liệu lọc ở phía trên có bùn vi sinh vật còn lớp nguyên liệu lọc ở phía dưới có các vi khuẩn nitrat hóa. Hiệu suất khử BOD cao và cho ra nước thải chứa lượng nitrat cao. Tuy nhiên cần phải lưu ý đến vấn đề mùi hôi và sự phát triển của ruồi Psychoda. Nguyên liệu lọc thường dùng là đá sỏi, xỉ.

Bể lọc vận tốc trung bình và nhanh: thường có hình trụ tròn, lưu lượng nạp chất hữu cơ cao hơn, nước thải được bơm hoàn lưu trở lại bể lọc và nạp liên tục, việc hoàn lưu nước thải giảm được vấn đề mùi hôi và sự phát triển của ruồi Psychoda. Nguyên liệu lọc thường sử dụng là đá sỏi, plastic.

Bể lọc cao tốc: có lưu lượng nạp nước thải và chất hữu cơ rất cao, khác với bể lọc vận tốc nhanh ở điểm có chiều sâu cột lọc sâu hơn do nguyên liệu lọc làm bằng plastic, do đó nhẹ hơn so với đá sỏi.

Bể lọc thô: lưu lương nạp chất hữu cơ lớn hơn 1,6 kg/m3.d, lưu lượng nước thải là 187m3/m2.d bể lọc thô dùng để xử lý sơ bộ nước thải trước giai đoạn xử lý thứ cấp.

Bể lọc hai pha: thường sử dụng để xử lý nước thải có hàm lượng chất ô nhiễm cao và cần nitrat hóa đạm trong nước thải. Giữa 2 bể lọc thường có bể lắng để loại bỏ bớt chất rắn sinh ra trong bể lọc thứ nhất. Bể lọc thứ nhất dùng để khử BOD của các hợp chất chứa carbon, bể thứ hai chủ yếu cho quá trình nitrat hóa.

BỂ Lọc Sinh Học Nhỏ Giọt:

Trong bể lọc sinh học nhỏ giọt , chất các vật liệu rổng để cho diện tích bề mặt tiếp xúc với thể tích nước là lớn nhất trong điều kiện có thể. Nước thải được phân phối bằng cách phun đều lên bề mặt lớp vật liệu. Nước thải tiếp xúc với vật liệu lọc chia thành các hạt nhỏ chảy thành màng mỏng qua khe lớp vật liệu lọc đi xuống. Trong thời gian nước thải tiếp xúc với màng nhầy gelatin bám quanh vật liệu lọc. Sau một thời gian lớp nhầy gelatin dày lên ngăn cản oxy trong không khí đi vào lớp nhầy, ở điều kiện không có không khí vi sinh vật yếm khí bên trong lớp nhày gelatine phát triển mạnh tạo ra sản phẩm cuối cùng là khí mêtan và CO2 làm tróc lớp màng ra khỏi vật liệu cứng rồi bị nước cuốn trôi xuống phía dưới. Trên mặt lớp vật liệu cứng lại hình thành một lớp màng nhầy mới, hiện tượng này lặp đi lặp lại tuần hoàn và nước thải được làm sạch BOD và các chất ô nhiễm. Để tránh hiện tượng tắc nghẽn trong hệ thống phun, trong lớp vật liệu lọc, trước bể lọc sinh học nhỏ giọt phải có song chắn rác, lưới chắn, bể lắng đợt một.Nước sau bể lọc sinh học sẽ có nhiều cặn bùn lơ lửng so các màng sinh học bong tróc ra nên phải xử lý tiếp bằng lắng đợt 2.

VẬt Liệu Lọc:

Vật liệu lọc tốt là lọai có diện tích bề mặt tiếp xúc với một đơn vị thể tích lớn, độ bền cơ học cao, giá cả hợp lí và không bị tắc nghẽn. Tùy thuộc vào đơn vị địa phương ta có thể chọn loại vật liệu lọc khác nhau: than đá cục, đá cục, cuội sỏi lớn, đá ong có kích thước trung bình từ 60 -100mm nếu kích thước nhỏ hơn sẽ giảm độ rỗng gây tắc nghẽn cục bộ, nếu quá lớn sẽ làm diện tích mặt tiếp xúc bị giảm ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý. Chiều cao lớp vật liệu từ 1,5 – 2,5m

Những năm gần đây do kỹ thuật sản xuất nhựa PAC phát triển, những tấm nhựa đúc lượn sóng lên xuống , gấp nếp và các dạng khác nhau của cầu nhựa đã được dùng làm vật liệu lọc. Do vật liệu lọa này nhẹ, dễ lắp và tháo gỡ nên chiều cao bể lọc sinh học nhỏ giọt đã tăng lên thành 6-9m là tháp lọc sinh học. tăng chiều cao làm giảm diện tích mặt bằng bể lọc sinh học.

Hệ thống phân phối nước.

Hệ thống phân phối nước được làm bằng dàn ống tự quay, đã được đưa vào tiêu chuẩn thiết kế bể lọc sinh học nhỏ giọt vì có cấu tạo đơn giản, làm việc ổn định, dêc quản lý.Khoảng cách từ bề mặt của lớp vật liêu đến vòi phun từ 0,2 – 0,3m để lấy không khí và để cho các tia nước phun ra vỡ thành các giọt nhỏ trên bề mặt toàn diện.

Nhận xử lý nước thải khu công nghiệp bằng công nghệ SBR

Đây là mô hình xử lý nước thải được áp dụng nhiều nhất ở nước ta trong việc xử lý nước thải cho khu công nghiệp tập trung.

Hình:  Sơ đồ nguyên tắc hệ thống thoát nước khu công nghiệp

       Nước thải của khu công nghiệp gồm hai loại chính: nước thải sinh hoạt từ các khu văn phòng và nước thải sản xuất từ các nhà máy sản xuất trong khu công nghiệp. Đặc tính nước thải sinh hoạt thường là ổn định so với nước thải sản xuất. Nước thải sinh hoạt ô nhiễm chủ yếu bởi các thông số BOD, COD, SS, Tổng N, Tổng P, dầu mỡ – chất béo. Trong khi đó các thông số ô nhiễm nước thải công nghiệp chỉ xác định được ở từng loại hình và công nghệ sản xuất cụ thể. Nếu không xử lý cục bộ mà chảy chung vào đường cống thoát nước, các loại nước thải này sẽ gây ra hư hỏng đường ống, cống thoát nước. Vì vậy, yêu cầu chung đối với các nhà máy, xí nghiệp trong các khu công nghiệp cần phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải để xử lý sơ bộ trước khi xả nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp. Nguồn nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của các đơn vị trong KCN chảy về hệ thống xử lý đạt quy chuẩn về môi trường trước khi thải ra môi trường bao gồm:

–      Nước thải sản xuất từ các nhà máy;

–      Nước thải sinh hoạt từ các nhà máy;

–      Nước thải là nước mưa chảy tràn;

–      Nước thải từ công tác chữa cháy, rửa thiết bị, vệ sinh nhà xưởng.

Hệ thống thoát nước trong KCN được thiết kế theo hai hệ thống riêng:

–      Hệ thống thoát nước mưa và nước thải công nghiệp quy ước sạch;

–      Hệ thống thoát nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp.

Các công trình xử lý cục bộ ở các nhà máy, xí nghiệp trong khu công nghiệp đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp với nhiệm vụ xử lý đạt tới giá trị nồng độ theo quy chế KCN là nguồn loại B (QCVN24:2009/BTNMT)

I. SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ SBR

 

II. THUYẾT MINH SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP BẰNG CÔNG NGHỆ SBR

Nước thải từ các nhà máy trong khu công nghiệp được tập trung và dẫn qua mương lắng cát kết hợp đặt song chắn rác thô. Rác có kích thước lớn được tách ra, cát lắng xuống đáy mương và được lấy lên theo định kỳ. Nước thải tiếp tục chảy về hố thu của hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp.

Tại hố thu, nước thải được bơm tự động bơm qua máy lọc rác tinh. Tại máy lọc rác tinh, rác có kích thước nhỏ được tách ra trước khi vào bể tách dầu. Tại bể tách dầu, dầu mỡ có trong nước thải được gạt bỏ ra khỏi nước thải và được thu về thùng chứa dầu mỡ và đem đi xử lý. Tiếp đến nước thải tự chảy qua bể điều hoà, tại đây nước thải được điều hòa về lưu lượng, nhờ 2 máy khuấy trộn chìm và được điều chỉnh pH nước thải cho thích hợp bằng dung dịch H2SO4 và dung dịch NaOH trước khi đi vào bể phản ứng.

Tiếp đến, nước thải được bơm qua bể phản ứng. Tại bể này, châm dung dịch phèn vào kết  hợp với khuấy trộn sẽ xảy ra quá trình tạo bông để tạo điều kiện tốt cho quá trình lắng ở bể lắng. Tiếp theo, nước thải tự chảy qua bể lắng, lượng bông bùn có trong nước thải được lắng xuống đáy. Định kỳ bùn này được bơm về bể chứa bùn, phần nước trong bên trên tự chảy về bể sinh học hiếu khí SBR. Tại bể này, khí được thổi liên tục trong 1 thời gian nhất định (trong một mẻ), từ dưới lên theo một hệ thống sục khí khuếch tán và hòa tan oxy vào nước. Trong điều kiện sục khí liên tục, vi khuẩn hiếu khí sẽ oxy hoá hầu hết các hợp chất hữu cơ có trong nước thải.

Sau khi hết thời gian sục khí, ngừng quá trình sục khí và để lượng bùn có trong nước thải lắng xuống đáy bể. Một phần bùn này được bơm bùn tự động bơm về bể chứa bùn, phần nước phía trên bể SBR được thu về bể khử trùng nhờ DECANTER thu được.

SBR là một dạng của bể Aerotank. Khi xây dựng bể SBR nước thải chỉ cần đi qua song chắn, bể lắng cát và tách dầu mỡ nếu cần, rồi nạp thẳng vào bể. Ưu điểm là khử được các hợp chất chứa nitơ, photpho khi vận hành đúng các quy trình hiếu khí, thiếu khí và yếm khí.

Bể SBR hoạt động theo 5 pha:

·   Pha làm đầy ( fill ): thời gian bơm nước vào kéo dài từ 1-3 giờ. Dòng nước thải được đưa vào bể trong suốt thời gian diễn ra pha làm đầy. Trong bể phản ứng hoạt động theo mẻ nối tiếp nhau, tuỳ theo mục tiêu xử lý, hàm lượng BOD đầu vào, quá trình làm đầy có thể thay đổi linh hoạt: làm đầy – tĩnh, làm đầy – hòa trộn, làm đầy – sục khí.

·   Pha phản ứng, thổi khí ( React ): Tạo phản ứng sinh hóa giữa nước thải và bùn hoạt tính bằng sục khí hay làm thoáng bề mặt để cấp oxy vào nước và khuấy trộn đều hỗn hợp. Thời gian làm thoáng phụ thuộc vào chất lượng nước thải, thường khoảng 2 giờ. Trong pha phản ứng, quá trình nitrat hóa có thể thực hiện, chuyển Nitơ từ dạng N-NH3 sang N-N­O22- và nhanh chóng chuyển sang dạng N-NO3-.

·   Pha lắng (settle): Lắng trong nước. Quá trình diễn ra trong môi trường tĩnh, hiệu quả thủy lực của bể đạt 100%. Thời gian lắng trong và cô đặc bùn thường kết thúc sớm hơn 2 giờ.

·   Pha rút nước ( draw):  Khoảng 0.5 giờ.

·   Pha chờ : Chờ đợi để nạp mẻ mới, thời gian chờ đợi phụ thuộc vào thời gian vận hành 4 quy trình trên và vào số lượng bể, thứ tự nạp nước nguồn vào bể.

Xả bùn dư là một giai đoạn quan trọng không thuộc 5 giai đoạn cơ bản trên, nhưng nó cũng ảnh hưởng lớn đến năng suất của hệ. Lưu lượng và tần suất xả bùn được xác định bởi năng suất yêu cầu, cũng giống như hệ hoạt động liên tục thông thường. Trong hệ hoạt động gián đoạn, việc xả bùn thường được thực hiện ở giai đoạn lắng hoặc giai đoạn tháo nước trong. Đặc điểm duy nhất là ở bể SBR không cần tuần hoàn bùn hoạt hoá. Hai quá trình làm thoáng và lắng đều diễn ra ở ngay trong một bể, cho nên không có sự mất mát bùn hoạt tính ở giai đoạn phản ứng và không phải tuần hoàn bùn hoạt tính từ bể lắng để giữ nồng độ.

Tại bể khử trùng nước thải được châm dung dịch NaOCl với liều lượng nhất định để tiệt trùng  nước trước khi xả ra hồ sinh học.

Nước thải sau quá trình xử lý đạt cột  A QCVN24:2009/BTNMT được phép xả thải ra môi trường.

Chúng tôi có các công nghệ xử lý nước thải công nghiệp tương tự như:

      Xử lý nước thải khu công nghiệp

      Xử lý nước thải khu công nghiệp bằng công nghệ Unitank

Hãy liên hệ Công ty môi trường Ngọc Lân để được tư vấn miễn phí các hệ thống Xử lý nước thải khu công nghiệp bằng công nghệ SBR, Unitank, MBBR, MBR…

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và hiệu quả !