Giới thiệu chung về việc phân loại tổng hàm lượng cặn

I Tìm hiểu chung về nước thải

Nước thải sinh hoạt có những đặc tính và chỉ tiêu chất lượng chung có thể phán đoán và đánh giá khi chọn các công trình xử lý đã phổ biến, còn nước thải công nghiệp có đặc tính và chất lượng rất khác nhau tùy thuộc vào từng loại nhà máy mức độ trang thiết bị nên rất khó có những chỉ tiêu chung để đánh giá chất lượng nước thải đầu ra cho các loại công nghiệp, mỗi loại công nghiệp có nước thải khác nhau so với nước thải sinh hoạt vì vậy phải tiến hành khảo sát, đo lường, phân tích và đánh giá để tìm ra phương pháp xử lý thích hợp.

Nước thải sinh hoạt khi chua bị phân hủy có màu nâu, chứa nhiều cặn lơ lững và chưa bốc mùi khó chịu. Trong nước thải sinh hoạt có chứa rất nhiều chất rắn lơ lửng như phân người, động vật, xác một số động vật chết, mảnh vụn thức ăn, dầu mỡ, gỗ, võ trái cây, nhựa, bông gạc, và các phế thải khác sau khi phục vụ cho ăn uống sinh hoạt của con người thải ra môi trường nước.

Dưới điều kiện môi trường nhất định, vi khuẩn tự nhiên có trong nước và đất tấn công vào chất thải gây ra các phản ứng sinh hóa làm biến đổi tính chất của nước thải. Nước thải sẽ chuyển dần từ màu nâu sang màu đen và có mùi hôi thối khó chịu.

Nước thải là hỗn hợp các hợp chất rất nhiều chất hóa học phức tạp, nên việc phân tích đánh giá riêng lẽ các hợp chất này rất khó khăn không thể thực hiện hoàn chỉnh được, mà chỉ có thể xác định chính xác một cách chung chung hàm lượng các chất hữu cơ và các chất vô co có trong nước thải.

Để phục vụ cho các quy trình xử lý làm sạch nước thải bằng phương pháp sinh học, cần phân tích các chỉ tiêu chất lương như : tổng hàm lượng cặn, hàm lượng cặn lơ lửng (SS), cặn hữu cơ, cặn vô cơ có trong nước thải, nhu cầu oxy sinh hóa(BOD), nhu cầu oxy hóa họa(COD), hàm lượng nito, hàm lượng photpho, pH, nhiệt độ trong nước.

II. Thành phần và tính chất của cặn trong nước thải

Hiện có nhiều phương pháp phân loại và xác định thành phần và tính chất của cặn trong nước thải ;

II.1 Tổng hàm lượng cặn

Là tổng số của tất cả các loại cặn có nguồn gốc hữu cơ và vô cơ có trong nước thải ở trạng thái lơ lửng và hòa tan (tính bằng mg/l)

Để xác định tổng hàm lượng cặn, lấy mẫu nước thải cho vào tủ sấy, giữ ở nhiệt độ không đổi 105 độ C cho bay hơi hết, cặn còn lại gọi là cặn khô, đem đi cân sẽ thu được tổng hàm lượng cặn trong mẫu và biểu thị bằng ml/l

II.2 Cặn hữu cơ

Cặn hữu cơ trong nước thải có nguồn gốc từ thức ăn người, động vật đã tiêu hóa và một phần nhỏ dư thừa thải ra từ xác động vật chết, cây lá thối rửa tạo nên. Thành phần hóa học của chất hữu cơ là cacbon (C), hydro (H2), Oxy ( O2), một số chất có thêm nito (N2), photpho (P), lưu huỳnh (S).

Dạng tồn tại của cặn hữu cơ trong nước chủ yếu là protein, cacbonhydrat, chất béo và các sản phẩm phân hủy của chúng. Các hợp chất hữu cơ này bị phân hủy thối rửa do các hoạt động của vi sinh và vi khuẩn sống trong nước, dễ cháy và dẽ bắt lửa.

Cặn hữu cơ thường cháy và bay hơi hoàn toàn ở nhiệt độ là 550 đến 600 độ C, nên đôi khi còn được gọi là cặn bay hơi.

II.3 Cặn vô cơ

Cặn vô cơ là các chất trơ , không bay hơi, đôi khi kết hợp với những hợp chất vô cơ phức tạp khác ở điều kiện nhất định sẽ bắt đầu phân rã. Cặn vô cơ có nguồn gốc khoáng khác nhau như muối khoáng , cặn, bùn, sạn, độ kiềm, độ cứng, và các chất thường gặp trong nước cấp. Cặn vô cơ thường không cháy ở nhiệt độ cao.

Đem sấy tiếp cặn khô ở nhiệt độ 550 đến 600 độ C toàn bộ cặn hữu cơ sẽ cháy hết lượng còn lại là cặn vô cơ, đôi khi còn được  gọi là độ tro của cặn.

 Núi lửa Pavlof phun ra hàng tấn tro bụi mỗi năm

II.4 Cặn lơ lửng(SS)

Cặn lơ lủng có thể nhận biết bằng mắt thường, có thể laoij nó ra khỏi nước bằng quá trình keo tụ, lắng, lọc . Để xác định hàm lượng cặn lơ lửng. Lấy mẫu nước thải lọc qua giấy lọc tiêu chuẩn, sấy khô ở nhiệt độ 105độ C đem cân sẽ được hàm lượng cặn lơ lững biểu thị bằng mg/lTrong nước thải sinh hoạt cặn lơ lửng chứa khoảng 70 % cặn hữu cơ và 30 % là cặn vô cơ.

Cặn lơ lửng gồm cặn lắng được và cặn ở dạng keo không lắng được.

II.5 Cặn lắng được

Cặn lắng là một phần của cặn lơ lửng, có kích thước và trọng lượng đủ lớn để có thể lắng xuống đáy ống nghiệm hoặc lắng xuống đáy bể. Cách thức tiến hành xác định lượng cặn lắng được: Lấy 1 lít nước thải cho vào ống lắng có khắc độ, để lắng tĩnh trong vòng 30 phút. Đo thể tích cặn lắng ở đáy ống nghiệm, kết quả biểu hiện bằng ml cặn lắng/l nước thải hay ml cặn lắng trên 1 gram cặn lơ lửng (ml/mg) còn gọi là chỉ  số thể tích của cặn.

II.6 Cặn dạng keo

Cặn dạng keo là một phần của cặn lơ lửng nhưng chúng không lắng xuống đáy ống nghiệm hay đáy bể trong thời gian dài hàng 3 – 4 giờ, cặn keo thường chứa 65% cặn hữu cơ và 35% cặn cô cơ, cặn keo chịu tác động phân hủy do các phản ứng sinh hóa của vi sinh tạo ra, và là thông số quan trọng trong quá trình xử lý nước thải.

II.7 Cặn hòa tan

Cặn hòa tan có kích thước rất nhỏ, nó chui lọt qua mẫu lọc tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm. Cặn hòa tan có 90 % là là cặn hòa tan thực và 10% là cặn keo . Cặn hòa tan lại có 40% là cặn hữu cơ và 60 % là cặn vô cơ.

Trong các quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, nhiệm vụ của người kỹ sư là phải thiết kế ra các công trình có đủ điều kiện

 thuận lợi cho vi sinh phát triển và tăng trưởng để hấp phụ cặn hữu cơ ở dạng hào tan, dạng keo, dạng lơ lửng, rồi chuyển hóa chúng thành cặn ở dạng ổn định dễ lắng trong thời gian càng ngắn càng tốt.

 

1. PHÂN LOẠI TỔNG HÀM LƯỢNG CẶN THEO NGUỒN GỐC

Rounded Rectangle: TỔNG HÀM LƯỢNG CẶN

 

 

Text Box: 90% cặn hòa tan Text Box: Tổng hàm lượng cặnText Box: 60 % cặn vô cơText Box: 40% cặn hữu cơ Text Box: Hòa tan<br />
90% cặn hòa tan; 10% keo<br />
Text Box: Lơ lửng<br />
70% hữu cơ; 30% vô cơ<br />
Text Box: Keo<br />
65% hữu cơ, 35% vô cơ<br />
Text Box: Lắng<br />
 (lấy mẫu và để lắng trong 30 phút )<br />
Rounded Rectangle: CẶN HỮU CƠ<br />
Có thể cháy và bay hơi hoàn toàn ở nhiệt độ 550 – 600 độ C<br />
Rounded Rectangle: CẶN VÔ CƠ<br />
Là chất trơ, không bị phân hủy, sau khi cặn hũy cơ cháy và bay hơi hết thì còn lại cặn vô cơ.<br />
 

Add a Comment